Mục tiêu của nghiên cứu này là so sánh phương pháp điều trị tiêu chuẩn với sự kết hợp giữa truyền tế bào gốc tự thân (ASC) vào tuyến tụy và điều trị oxy cao áp (HBOT) trước và sau khi truyền ASC trong việc kiểm soát chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 (T2DM). Nghiên cứu này là một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng, tiến hành theo phương pháp tiền cứu. Can thiệp kết hợp bao gồm 10 buổi HBOT trước khi truyền ASC vào tuyến tụy và 10 buổi sau đó. ASC được truyền vào động mạch chủ của tuyến tụy để tối đa hóa sự hiện diện của tế bào gốc tại vị trí cần hiệu quả điều trị nhất. Tổng cộng có 23 bệnh nhân tham gia (nhóm đối chứng = 10, nhóm can thiệp = 13). Tuổi, giới tính, thời gian mắc bệnh đái tháo đường, số lượng thuốc đang dùng, cân nặng và chiều cao, và nhu cầu insulin được ghi nhận ở thời điểm ban đầu và cứ ba tháng một lần. Ngoài ra, chỉ số khối cơ thể (BMI), đường huyết lúc đói, C-peptide, HbA1c và tỷ lệ C-peptide/glucose (CPGR) cũng được đo cứ ba tháng một lần trong vòng một năm. Nồng độ HbA1c ở nhóm can thiệp thấp hơn đáng kể so với nhóm đối chứng trong suốt thời gian theo dõi. Nhìn chung, 77% bệnh nhân trong nhóm can thiệp và 30% bệnh nhân trong nhóm đối chứng cho thấy sự giảm HbA1c ít nhất 1 đơn vị sau 180 ngày (so với mức ban đầu). Nồng độ glucose thấp hơn đáng kể ở nhóm can thiệp tại tất cả các thời điểm trong quá trình theo dõi. Nồng độ C-peptide cao hơn đáng kể ở nhóm can thiệp trong suốt thời gian theo dõi và sau một năm: 1,9 ± 1,0 ng/mL so với 0,7 ± 0,4 ng/mL ở nhóm can thiệp so với nhóm đối chứng, tương ứng, p = 0,0021. CPGR cao hơn ở nhóm can thiệp tại tất cả các lần kiểm tra trong suốt quá trình theo dõi. Nhu cầu insulin thấp hơn đáng kể ở nhóm can thiệp vào các ngày 90, 180, 270 và 365. Liệu pháp kết hợp truyền ASC nội tụy và HBOT cho thấy sự kiểm soát chuyển hóa tốt hơn và giảm nhu cầu insulin ở bệnh nhân đái tháo đường टाइप 2 so với điều trị tiêu chuẩn.
Mục tiêu của nghiên cứu này là so sánh phương pháp điều trị tiêu chuẩn với sự kết hợp giữa truyền tế bào gốc tự thân (ASC) vào tuyến tụy và điều trị oxy cao áp (HBOT) trước và sau khi truyền ASC trong việc kiểm soát chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 (T2DM). Nghiên cứu này là một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng, tiến hành theo phương pháp tiền cứu. Can thiệp kết hợp bao gồm 10 buổi HBOT trước khi truyền ASC vào tuyến tụy và 10 buổi sau đó. ASC được truyền vào động mạch chủ của tuyến tụy để tối đa hóa sự hiện diện của tế bào gốc tại vị trí cần hiệu quả điều trị nhất. Tổng cộng có 23 bệnh nhân tham gia (nhóm đối chứng = 10, nhóm can thiệp = 13). Tuổi, giới tính, thời gian mắc bệnh đái tháo đường, số lượng thuốc đang dùng, cân nặng và chiều cao, và nhu cầu insulin được ghi nhận ở thời điểm ban đầu và cứ ba tháng một lần. Ngoài ra, chỉ số khối cơ thể (BMI), đường huyết lúc đói, C-peptide, HbA1c và tỷ lệ C-peptide/glucose (CPGR) cũng được đo cứ ba tháng một lần trong vòng một năm. Nồng độ HbA1c ở nhóm can thiệp thấp hơn đáng kể so với nhóm đối chứng trong suốt thời gian theo dõi. Nhìn chung, 77% bệnh nhân trong nhóm can thiệp và 30% bệnh nhân trong nhóm đối chứng cho thấy sự giảm HbA1c ít nhất 1 đơn vị sau 180 ngày (so với mức ban đầu). Nồng độ glucose thấp hơn đáng kể ở nhóm can thiệp tại tất cả các thời điểm trong quá trình theo dõi. Nồng độ C-peptide cao hơn đáng kể ở nhóm can thiệp trong suốt thời gian theo dõi và sau một năm: 1,9 ± 1,0 ng/mL so với 0,7 ± 0,4 ng/mL ở nhóm can thiệp so với nhóm đối chứng, tương ứng, p = 0,0021. CPGR cao hơn ở nhóm can thiệp tại tất cả các lần kiểm tra trong suốt quá trình theo dõi. Nhu cầu insulin thấp hơn đáng kể ở nhóm can thiệp vào các ngày 90, 180, 270 và 365. Liệu pháp kết hợp truyền ASC nội tụy và HBOT cho thấy sự kiểm soát chuyển hóa tốt hơn và giảm nhu cầu insulin ở bệnh nhân đái tháo đường टाइप 2 so với điều trị tiêu chuẩn.

















